Friday, 9 June 2017

CHƠI VIOLIN NHƯ TÔI ĐÃ DẠY – VIOLIN PLAYING AS I TEACH IT – Chương IX: Hòa âm - HARMONICS



CHƯƠNG IX
HARMONICS

I
HÒA ÂM TỰ NHIÊN - NATURAL HARMONICS

NATURAL HARMONIC – được thực hiện khi dây đàn buông- hiện diện với số bốn trên mỗi chuỗi riêng của violin. Ví dụ như trên dây G (Sol), chúng ta có:



Và tương tự, các these harmonics có trên dây D (Rê), A (La) và E (Mi). Các ngón bấm được nêu ra ở ví dụ trên và các ngón bấm khác có thể được sử dụng ở bất kì vị trí nào mà chúng có khả năng chơi được bản ghi hài hoà tự nhiên.


HÒA ÂM NHÂN TẠO - ARTIFICIAL HARMONICS

Artificial harmonics khó chơi hơn so với natural harmonics vậy nên việc luyện tập nó một cách chi tiết là cần thiết để có thể chơi và tạo ra hiệu ứng thực sự hài hòa. Muốn thành thạo kỹ thuật này bạn phải tuân theo một quy luật: thực hiện một cách chậm rãi, chú ý sao cho ngón bấm số 4 đặt đúng vị trí để tạo ra được giai điệu hài hòa (ngón bấm số 1vẫn ở nguyên vị trí). Chỉ cần lệch vị trí một chút sẽ làm âm điệu không chuẩn và dẫn mất đi sự hài hòa của giai điệu. Khi điều này xảy ra, người chơi thường viện dẫn mọi lý do trong khi hầu hết các thất bại là tại ngón bấm số 4 hoặc tại cả ngón bấm số 1 và số 4 đặt không đúng vị trị.

Hệ quả của việc ngón bấm đặt sai vị trí còn rõ ràng và xấu hơn khi chơi một chuỗi hòa âm trong những phần có giai điệu chậm hoặc nhanh hơn. Để giải quyết vấn đề này, trước hết học sinh cần quay trở lại luyện tập quãng bốn đúng, để các ngón tay quen dần với âm điệu chuẩn. Ví du như bài tập sau đây:


 Tiếp tục thực hiện với toàn bộ các âm giai như sau:



Và quay trở lại luyện tập thang âm với các nốt thăng, giáng trong nhiều khóa nhạc. Và phải chắc chắn là sẽ luyện tập chăm chỉ đến khi ngón bấm số 4 tự động rơi vào đúng mọi vị trí trong mọi khóa (điệu)ở quãng bốn đúng vì artificial harmonics được chơi ở tất cả các giai điệu.

Đối với cây vĩ, khi bắt đầu kéo cần thực hiện một cách khéo léo, không ấn mạnh và đột ngột để vĩ rơi lên dây đàn. Điểm quan trọng nhất cần nhớ là các ngón bấm nên ở đúng vị trí trước khi bắt đầu kéo vĩ. Bàn tay tự do di chuyển nhưng không cản trở sự chuyển động của bất kỳ phần nào trên cây vĩ, sau đó bạn có thể bắt đầu khi bàn tay đã để đúng tư thế.
Tôi sẽ thừa nhận rằng đây là một bài luyện tập phức tạp, nhưng ai thực sự muốn trở thành một nghệ sĩ violin chuyên nghiệp phải chấp nhận và cam kết cố gắng hết sức mình để đạt được mục tiêu.

DOUBLE HARMONICS

Yêu cầu đầu tiên để có thể chơi double harmonics là cần có ngón tay dài và một bàn tay to do khoảng cách rộng giữa các quãng khác nhau và  cần bấm nốt trên các dây đàn khác nhau. Bên cạnh đó, bạn cần có và nuôi dưỡng cho mình đôi tai nhạy âm đồng thời đạt được một trình độ nhất định trong kỹ năng kết hợp ngón bấm ở các quãng khác nhau.

Artificial harmonics được chia thành 3 nhóm khác nhau:
1.Các kiểu được hình thành từ quãng ba trưởng.
2.Các kiểu được hình thành từ quãng bốn đúng (đã được nói tới ở trên).
3. Các kiểu được hình thành từ quãng năm đúng.

Ba quãng này, khi kết hợp với  natural harmonics sẽ tạo ra double harmonics. Ví dụ sau cho thấy một artificial harmonics ở dạng đơn giản:


Có rất ít tài liệu đặc biệt nghiên cứu và hướng dẫn phương pháp chơi double harmonics vì một lý do chính là chúng rất hiếm khi được sử dụng (*). Bên cạnh đó, bạn cần một bàn tay cùng các ngón tay dài để có thể chơi nó cũng như một tinh thần bền bỉ, dẻo dai để chơi được tất cả các yêu cầu của bản nhạc mà đôi khi chúng bị bỏ qua. Tuy nhiên, ngay cả khi bạn có năng khiếu và đôi bàn tay thích hợp để chơi violin thì vẫn luôn có sự rủi ro khi chơi double harmonics trước công chúng. Đôi khi, điều kiện thời tiết cũng làm ảnh hưởng đến sự hòa âm. Trong trường hợp đó, người ta không thể tạo ra giai điệu của double harmonics mặc dù họ có tài năng và người nghe sẽ ngạc nhiên khi không biết về nguyên nhân thực sự của màn biểu diễn tệ hại này.
____________________
Chú thích(*): Tôi biết có một luận văn đặc biệt nói tới hòa âm trong cuốn École de Violon của Richard Hofmann (phần thứ ba hay thứ tư), được xuất bản bởi Zimmermann ở Leipsic, châu Âu.



                             MUỐI lược dịch từ cuốn VIOLIN PLAYING AS I TEACH IT

Saturday, 3 June 2017

CHƠI VIOLIN NHƯ TÔI ĐÃ DẠY – VIOLIN PLAYING AS I TEACH IT – Chương VIII: Nốt hoa mỹ và gảy


CHƯƠNG VIII
NỐT HOA MỸ (ORNAMENTS) VÀ GẢY (PIZZICATO) 

Trong tiếng Ý từ mordentegrupetto - gọi là "turn" và "grace-notes" (nốt hoa mỹ) trong tiếng Anh - là sự phụ họa cho bản nhạc thêm sinh động đã thịnh hành và được sử dụng rộng rãi trong nhiều thế kỷ qua. Nó chủ yếu được sử dụng trong những bản nhạc có phần chơi chậm mà cách chơi phụ thuộc vào phong cách và cảm xúc âm nhạc của người nghệ sĩ. Đúng là việc sử dụng ornaments (nốt hoa mỹ hay còn gọi là âm tô điểm) đã bị cường điệu hóa quá mức, tuy nhiên toàn bộ vấn đề về sự thêm thắt này trở lên mơ hồ và chúng tôi vẫn phải đang triển khai tổng hợp toàn bộ quy tắc có thể làm tài liệu hướng dẫn cho giáo viên và học sinh. Trong thời gian qua, việc sử dụng ornaments trong chơi đàn violin được giảng dạy theo quan điểm của từng giáo viên, và được chơi theo phong cách, mức độ cảm thụ nghệ thuật của từng người chơi. 

Ngay cả trong thời Leopold Mozart - cha của Wolfgang Amadeus, đã than phiền rằng bản Gründliche Violinschule của mình đã bị các nghệ sĩ violin độc tấu lạm dụng ornaments quá mức, có nguy cơ làm mất đi giai điệu gốc của bản nhạc. Quan sát từ những bản concertos của Viotti và Paganini cho đến những bản sửa công phu khi có thêm ornaments bởi David, Wilhelmj, Kreisler, vv Rode, Kreutzer và Spohr  theo cách họ muốn thực hiện; đặc biệt là các phần, đoạn trong tác phẩm của Johann Sebastian Bach và Mozart bị thay đổi nhiều khi thêm ornaments. Không để đến Beethoven, ở đó có mọi vẻ đẹp và sự phong phú của các nuance (sắc thái) không gì có thể sánh được. Trên thực tế, người chơi không cần phải thay đổi hay thêm các ornaments trong các tác phẩm của những nhà soạn nhạc vĩ đại này.

Có nhiều kiểu ornaments trong violin như appoggiatura (nốt dựa - thuật ngữ âm nhạc tiếng Ý chỉ nốt nhạc thêm vào trước nốt nhạc chính, có trường độ ngắn hơn và cường độ yếu hơn nốt nhạc chính) hay "grace-note", như ở trong ví dụ sau:


Mặc dù có ít nốt nhạc trong bản nhạc trên thì bạn cũng không nên làm xáo trộn nó. Grace-note như một nốt nhạc nhưng lại không được xét tới trong nhịp điệu. Khi chơi chúng bạn nên được hướng dẫn hoàn toàn bởi sự nhạy cảm của chính mình về sự nhịp nhàng của giai điệu. Trên thực tế, mọi thể loại của ornaments đều tuân theo quy luật này. Phần ghi chú (a) trên gạch nhịp (cross-bar) cần chơi khá ngắn,gọn;  trong khi những nốt không chia thành nhịp (b), mượn một nửa giá trị của nốt trước đó nhưng nhịp điệu vẫn không thay đổi, hay nói cách khác là chỉ có sự thay đổi thời gian chơi của nốt nhạc này so với nốt nhạc trước đó.

Sau đó, chúng ta sử dụng mordente hay còn gọi là "turn" trên 3 nốt nhạc:




Nó là các dấu nhấn luôn luôn rơi vào các nốt dài thường được kí hiệu như ví dụ sau:


Người chơi cần quan sát để rút ra các quy luật chính trong các phần chơi chậm và đoạn cantabile để tránh chơi quá nhanh  và trên hết đảm bảo giai điệu phù hợp với nét đặc sắc của từng tiết nhạc.

PIZZICATO

Pizzicato là kỹ thuật gảy dây đàn bằng ngón tay tạo ra một hiệu ứng violin có giá trị. Chúng được thực hiện bằng tay trái hoặc tay phải.

Nếu Pizzicato được chơi bằng tay phải thì sử dụng ngón tay số 1, ngón tay cái dựa vào cạnh của phím bấm, và ngón tay số 1 gảy dây đàn bằng phần thịt trên đầu ngón tay, lưu ý không sử dụng móng tay. Khi gảy, dây đàn không nên rung chuyển quá mạnh, vì điều này sẽ tạo ra những âm thanh khó nghe. Để dây tự do rung và phát ra âm thanh rõ nghe hãy bằng bắt đầu thực hiện theo hướng từ dây G (Sol) đến dây E (Mi) với toàn bộ chiều rộng phần thịt của đầu ngón tay mà không cần cố gắng. Những nghệ sĩ có kinh nghiệm khi chơi pizzicato sẽ tạo ra âm thanh giống với tiếng đàn hạc.

Khi được chơi đúng cách, pizzicato được sử dụng hiệu quả trong dàn nhạc giao hưởng, nhạc thính phòng và các bản độc tấu. Ví dụ trong phần, bản Grand Trio- B major của Beethoven; Và phần 1của bản String Quartet ở E flat major, Op. 76. Tôi đề cập đến hai tác phẩm này là ví dụ tiêu biểu để cho thấy kỹ thuật pizzicato rất cần thiết cho sự phát triển các hiệu ứng âm nhạc.

Có sự khác nhau giữa việc thực hiện pizzicato bằng ngón tay phải và các ngón tay trái. Các đoạn pizzicato nhanh có trong các tác phẩm của Paganini và các tác phẩm của nhà soạn nhạc Ernst và Bazzini. Khi gảy dây đàn, kéo cánh tay lùi sang bên trái ở vị trí ngược lại vị trí mà cánh tay thường để. Bên cạnh những cách thức để chơi được pizzicato hiệu quả, tính chất của da ở trên đầu ngón tay cũng đóng vai trò quan trọng. Nếu da của người chơi mỏng, mềm và yếu thì tiếng pizzicato sẽ không rõ ràng, trong khi nếu đầu ngón tay được bao bởi một làn da dầy và có sự dẻo dai thì tiếng pizzicato sẽ có độ vang và rõ nét.


Đừng để học sinh nghĩ rằng bằng cách cố gắng, nỗ lực hết mình thì anh ta sẽ có thể gảy được tiếng đàn có âm lượng to và âm điệu hay. Anh ấy chỉ đơn giản là đang lãng phí thời gian trong sự nỗ lực vô ích. Kết quả duy nhất sẽ chỉ là một giai điệu rít lên khó nghe và hơn nữa da của ngón tay sẽ bị tấy rát, phồng giột và rất khó khăn để chơi tiếp trong vài ngày tới.


                                MUỐI lược dịch từ cuốn VIOLIN PLAYING AS I TEACH IT

Sunday, 28 May 2017

CHƠI VIOLIN NHƯ TÔI ĐÃ DẠY – VIOLIN PLAYING AS I TEACH IT – Chương VII: Kỹ thuật double-stops và the trill (PHẦN 2)

 CHƯƠNG VII (Phần 1)
KỸ THUẬT DOUBLE-STOPS VÀ THE TRILL

V
NGÓN BẤM QUÃNG TÁM – FINGERED OCTAVES

Cho đến nay, tôi khám phá ra rằng fingered octaves ( ngón bấm quãng tám) là thành tựu của cuối thế kỷ vừa qua. Dĩ nhiên vẫn có khả năng rằng nó đã được dạy và sử dụng ở thời gian trước đó. Tôi quan tâm đến vì tôi chưa bao giờ, hoặc ít nhất là thoáng nghe qua về nó trong suốt quãng thời ấu thơ và không một giáo viên nào của mình như:  Hellmesberger, Jacques Dont, và Joachim (lúc ở Hanover - trong suốt triều đại của vua mù George từ 1863-1865) đã dạy tôi luyện tập " fingered octaves ".

Cho đến những năm sau đó, khi Wilhelmj chơi bản Concerto D major  của Paganini, ông đã giới thiệu về nó trong một bản cadenza (đoạn nhạc được độc tấu ở cuối một phần trong một bản concerto)- sáng tác của riêng mình. Đây là lần đầu tiên tôi được nghe. Nhờ sự dũng cảm của Wilhelmj mà kỹ thuật này không chỉ mang tới sự mới mẻ mà còn tạo ra những giai điệu rất tuyệt vời.Nhưng để thực hiện kỹ thuật này, chúng ta cần một bàn tay rất to với những ngón tay thon,dài. 



Tuy nhiên, trong các tài liệu violin của thời kỳ này không nhắc tới những hiệu ứng tuyệt vời của cặp “ ngón bấm” quãng tám. Cả những nghệ sĩ vĩ cầm bậc thầy của thời đại như Paganini, Vieuxtemps, Ernst (ngoại trừ bản chuyển biên- ghi lại âm thanh thành chữ viết của ông là Schubert’s Erl-King), Wieniawski, và Bazzini cũng không sử dụng kỹ thuật này trong các tác phẩm của mình.

VI
QUÃNG MƯỜI – TENTHS

Để luyện tập được quãng mười, bạn chỉ cần làm theo các quy tắc đã đặt ra cho ngón tay số 1 và số 4 khi chơi quãng tám. Những ngón tay ngắn sẽ gặp chút khó khăn khi tìm vị trí đầu tiên do khoảng cách kéo căng giữa hai ngón tay. Tuy nhiên nếu cánh tay trái có thể tiến lên hướng về phía dây E (Mi) thì khó khăn này có thể được tháo gỡ.

VII
LÁY - TRILL

Tôi không ngần ngại nói rằng thuần thục kỹ thuật trill (láy) là một trong những tài năng nổi bật nhất của một nghệ sĩ vĩ cầm. Có hai kỹ thuật láy là láy dài và láy ngắn.Nhưng dù là kỹ thuật nào thì cũng cần sự thích ứng phù hợp giữa bàn tay và sức mạnh cơ bắp nhờ sự chuyển động nhanh, linh hoạt của ngón tay và sự dẻo dai, bền bỉ để thực hiện liên tục như một chiếc chuông điện.

Có một số ngón tay được trời phú trở lên dễ dàng thực hiện những đoạn trill dài.Nhưng có những ngón tay kém may mắn hơn, mặc dù siêng năng luyện tập vẫn không bao giờ chơi trill được một cách thành thạo. Vì thế, Wilhelmj -  một nghệ sĩ vĩ cầm vĩ đại nổi tiếng bởi có thể chất dẻo dai lại không giỏi kỹ thuật trill và staccato. Nhưng để bù đắp cho khuyết điểm đó, ông đã nỗ lực để tiếng đàn Stradivarius của mình có âm điệu vang và mạnh mẽ nhất - như tôi nhớ đã từng nghe ông biểu diễn ở Nga cách đây khoảng giữa 44 năm và 45 năm trước đây.


Eddy Brown


Ngược lại Wieniawski và Sarasate chơi được trill từ sớm và thậm chí chơi được những đoạn trill rất dài, tạo nên một yếu tố tuyệt vời trong kỹ thuật chơi của họ. Joachim chủ yếu tỏa sáng bằng những đoạn trills ngắn, lắng đọng. Do đó ông đã chơi đoạn allegro trong bản sonata Tartini, được biết đến với tên gọi là  "The Devil's Trill" - dựa trên kỹ thuật láy ngắn ( short trill) với sự vượt trội không ai có thể bắt chước được.

Để có thể chơi được trill dù trong một đoạn ngắn hay dài thì trước hết các ngón tay phải được củng cố bằng các bài tập thể dục, được thực hiện một cách có hệ thống từng ngày. Các bài tập này có sẵn trong tuyển tập các bài tập double stop mà tôi đã nhắc tới và có thể thêm các bài tập đặc biệt để củng cố cho từng ngón tay. Để việc luyện tập có hiệu quả hơn bạn nên đặc biệt chú ý đến từng điểm yếu của từng ngón tay và có kế hoạch luyện tập phù hợp với từng trường hợp. (Xem thêm trong cuốn Finger- Strengthening Exercises của Alexander Bloch và  Tập I và II cuốn  Books I and II of School of Techinique của Schradieck.)

Nâng ngón tay lên chầm chậm và di chuyển đều đều, sau đó để nó rơi và đặt lên trên dây đàn – bàn tay không tham dự vào quá trình này. Luôn luôn nhớ trong các bài tập luyện cho ngón tay yếu thì chỉ đặt ngón tay lên dây đàn chứ không phải là cả bàn tay. Bạn không thể thành công được trong thời gian đầu luyện tập, đó là vấn đề cần nhiều thời gian đến hàng tháng, đôi khi hàng năm để có thể khắc phục được các điểm yếu của cơ. Tuy nhiên, nếu kiên trì tập luyện đúng phương pháp thì dù bạn không thể chơi trill một cách điêu luyện thì cũng đủ để bạn tạo ra những giai điệu đáng yêu và dễ nghe.
Đối với kỹ thuật trill ngắn và nhanh luyện tập theo ví dụ sau đây:


hoặc là:



Đối với đoạn nhạc yêu cầu sự chuyển động nhanh hơn, thay vì chơi trill trên hai nhịp kéo vĩ, bạn có thể chơi trill trên cùng một nhịp vĩ như sau:


 Tôi luôn đặt ra mục tiêu cho học sinh là chơi tốt kỹ thuật trill, tuy nhiên không nên lạm dụng kỹ thuật đó mà làm mất đi giai điệu chính của bản nhạc. Để tránh làm ảnh hưởng đến giai điệu, cần hoàn thành kỹ thuật trill bằng cách quay trở lại đúng nốt nhạc mà bạn bắt đầu chơi kỹ thuật trill (tham khảo các ví dụ trước) và để kết thúc, người chơi phải tuân theo dấu nhấn – cái cho ta biết nốt nhạc nào cần phải quay lại. Áp dụng điều này cho mọi lần chơi trill rất hiệu quả khi kết hợp với mức độ dài ngắn khác nhau của những đoạn trill.



VIII
HỢP ÂM BA VÀ BỐN ( THREE AND FOUR-NOTE CHORDS)

Bắt đầu chơi các hợp âm gặp rất nhiều khó khăn. Phần lớn các nghệ sĩ violin trẻ tin rằng nếu họ nhấn mạnh cây vĩ lên dây đàn bằng cánh tay, họ sẽ có được một âm sắc đầy đủ và vang. Tuy nhiên, kết quả lại ngược lại. Phần lông vĩ bị ấn mạnh khi trượt trên dây đàn khiến cho chuyển động bị “ nghẹt thở” và mất đi sự rung động. Cách đó có thể tạo ra âm lượng lớn hơn nhưng không thể chơi được một âm điệu mạnh mẽ mà âm sắc vẫn rõ nét do cách kéo vĩ này đã sử dụng toàn bộ bề mặt lông vĩ thay vì chỉ sử dụng ba phần tư bề mặt lông vĩ.  Chỉ sử dụng sự co dãn của cổ tay, và giữ vĩ trượt trong khoảng giữa ngựa đàn (bridge) và phím bấm (finger board), đặt vĩ gần ngựa đàn chứ không nhấc nó đột ngột ra khỏi vị trí sẽ giúp bàn tay khi chơi hợp âm không bị rơi hạ xuống phím bấm và tránh được tiếng rít khó nghe.

Kết luận lại:

1. Bắt đầu chơi hợp âm bằng cổ tay, sử dụng không quá ba phần tư bề mặt lông vĩ.
2. Nhẹ nhàng ấn xuống và cố gắng giữ cây vĩ di chuyển giữa ngựa đàn và phím bấm.
3. Luôn bắt đầu hai nốt nhạc cùng một lúc, như sau:


                 
                        MUỐI lược dịch từ cuốn VIOLIN PLAYING AS I TEACH IT

Wednesday, 24 May 2017

CHƠI VIOLIN NHƯ TÔI ĐÃ DẠY – VIOLIN PLAYING AS I TEACH IT – Chương VII: Kỹ thuật double-stops và the trill (PHẦN 1)


CHƯƠNG VII
KỸ THUẬT DOUBLE-STOPS VÀ THE TRILL

I
ÂM GIAI TRONG QUÃNG BA

Để tăng cường sự dẻo dai và linh hoạt của các ngón tay học sinh nên tiếp tục với các bài tập doubles-tops là kĩ thuật bấm 2 nốt cùng một lúc trên dây đàn (bấm nốt kép).Nhưng bạn không được sao nhãng các bài tập luyện âm giai với từng nốt nhạc.
Ngay khi kĩ năng ngón bấm chuyển từ vị trí này sang vị trí khác khá thuần thục bạn có thể bắt đầu với quãng ba  bằng khóa C (Đô), G (Sol), D (Rê), A(La)  và E (Mi) trưởng một cách từ từ:


Các bài tập nên được luyện như ở ví dụ trên cho cả dấu thăng và dấu giáng. Bằng cách luyện âm giai trong quãng ba, nó có thể giúp học sinh chú ý đến âm điệu khi đang chơi. Sau khi đã quen với double-stops, bạn có thể mở rộng bài tập theo đoạn nhạc dưới đây:


Tiếp đó, luyện các thang âm tương tự như thế trên dây D(Rê) và A(La) với gam Sol trưởng; trên dây A(La) và E(Mi) với gam Rê trưởng. Không thay đổi ngón bấm và thường xuyên chú ý đến âm điệu và sự thay đổi vị trí ngón bấm.

Cũng giống như chơi từng nốt nhạc, khi chuyển từ vị trí này sang vị trí khác trong thang âm của quãng ba cần không gây ra tiếng động mà ngón tay vẫn lướt nhanh. Chỉ có một cách để làm được điều này đó là giữ ngón số 2, số 4 đúng vị trí và ấn ngón số 1, số 3 càng sát càng tốt với hai ngón kia và di chuyển nhanh tới vị trí bấm thứ 3.


 Khi lùi, ngón số 1 và số 3 nên giữ nguyên vị trí - càng gần càng tốt với ngón số 2 và số để khi quay trở lại vị trí bấm thứ nhất, chúng sẽ rơi nhanh vào vị trí khi ngón số 1 và số 3 đang nhấc lên.



II
 ÂM GIAI TRONG QUÃNG BỐN

Tôi thường tự hỏi tại sao các nhà nghiên cứu, biên soạn " kỹ thuật” chơi đàn vĩ cầm có rất nhiều bài tập luyện âm nhưng hầu như lại bỏ qua âm giai trong quãng bốn.
Đối với các nghệ sĩ violin thì âm giai trong quãng bốn đúng không có nhiều thực hành kỹ thuật. Thỉnh thoảng chúng ta gặp nó trong nhạc thính phòng, dàn nhạc hay bản độc tấu violin. Âm giai trong quãng bốn đúng không thường được mở rộng sang các thể loại khác. Tuy nhiên nó vẫn cần sự chú ý và luyện tập nghiêm túc của người chơi violin vậy tại sao nó lại bị bỏ qua? Có phải vì chơi liên tiếp quãng bốn có âm điệu không dễ nghe? Hay vì nó không đúng theo quy luật hòa âm? Nhưng dù sao âm giai trong quãng bốn là một bài tập rất hữu ích.



Các bài luyện quãng bốn giảm với các điệu khác nhau và giọng thứ nên được thực hiện giống như tôi đã hướng dẫn ở trên. Học sinh chắc chắn sẽ cảm thấy khó khăn hơn khi chơi âm giai trong quãng bốn đúng so với âm giai trong quãng ba và sau ... Mặt khác, nếu bạn chuyên tâm vào luyện tập nó thì sau này sẽ thấy dễ dàng hơn khi tập flageolets ( còn gọi là artificial harmonics), hầu hết đều dựa trên quãng bốn để tạo ra những âm điệu hoàn hảo và giống như tiếng sáo.

Tôi quan sát thấy rất nhiều sinh viên, thậm chí cả những người có trình độ kỹ thuật cao đều cảm thấy rất khó để chơi hòa âm. Họ chăm sóc cây đàn bằng cách giữ chúng trong hộp, bôi nhựa thông lên cây vĩ…và tiếng đàn vẫn không thể hòa hợp với nhau. Sau đó, rất khó để hiểu được những thất bại đó, họ mất kiên nhẫn và bỏ qua nó. Tới những bài tập khác họ lại gặp thất bại tương tự.
Trong những trường hợp như vậy, tôi luôn khuyên học sinh luyện tập âm giai trong quãng bốn theo đúng phương pháp, đặc biệt chú ý đến vị trí của ngón số 4. Ngoài ra không hoàn toàn cần thiết đặt cây vĩ nằm hẳn lên trên dây đàn nhưng vẫn đủ để tạo ra tiếng đàn. Cách thức này giúp giải quyết những vấn đề trên. Còn câu hỏi vì sao nhiều nghệ sĩ violin lại bỏ qua âm giai trong quãng bốn tôi trông đợi vào câu trả lời ở các nhà nghiên cứu, biên dịch sách trong tương lai.

III
ÂM GIAI TRONG QUÃNG SÁU

Trong khi luyện âm giai ở quãng sáu tăng và giảm, tôi nói học sinh giữ ngón tay ở nguyên vị trí của nó – hết mức có thể. Vì nếu ngón tay này chuyển động sẽ làm cho những ngón còn lại nhấc lên khiến mọi thứ sẽ bị phá hỏng bởi âm thanh phát ra từ sự rung động của dây buông. Hệ quả là bạn sẽ không thể chơi được đoạn nhạc legato nào trong quãng sáu. Nhưng ngược lại, ngón tay được giữ đúng chỗ giúp cho tất cả các âm giai được kết nối với nhau tùy vào điểm mà người chơi có thể tự quyết định. Khi chọn các bài luyện ngón, bạn hãy lựa chọn theo sở thích và nhu cầu phù hợp với cá nhân mình. Nghệ sĩ violin trẻ tuổi có thể tìm hiểu trong cuốn Scale Studies in  Double Stops của Alexander Bloch và tập 2 - cuốn H.Schradieck’s School of Technique, cùng những tài liệu hướng dẫn khác.

IV
QUÃNG TÁM THƯỜNG – SIMPLE OCTAVES
(Ngón tay số 1 và số 4)

Phần lớn học sinh violon nhận thấy rằng rất khó khăn để chơi quãng tám (với ngón số 1 và số 4) với một âm điệu thực sự rõ nét. Tuy nhiên, đây là một quãng nhạc phổ biến trong tất cả các thể loại âm nhạc do vậy nó là một phần không thể thiếu của kỹ thuật đàn violin. Đôi khi ngón số 1 bị lệch khỏi vị trí, thậm chí trên thực tế nó thường thất bại khị thực hiện nhiệm vụ của mình. Thỉnh thoảng ngón tay số 4 làm quá trình luyện tập bị gián đoạn hoặc cả hai ngón tay chuyển động không dứt khoát khiến học sinh do dự không biết là nên tiến hay lùi, kết thúc đoạn nhạc với quãng bảy hoặc quãng chín, và không biết rằng mình vừa chơi hai quãng vừa rồi thay cho quãng tám.

Để khắc phục những khó khăn khi chơi quãng tám, tôi khuyên học sinh nên tập trung chú ý vào ngón tay số 1 và không để ý đến ngón số 4. Trong khi họ thường có thói quen hoàn toàn ngược lại và kết quả là âm điệu luôn luôn không rõ ràng. Khi học sinh của tôi luyện quãng tám theo cách như vậy mặc dù cả hai ngón tay (số 1và số 4) được đặt đúng vị trí, vĩ chỉ chạm vào dây thấp hơn (ngón số 1), cùng lúc ngón số 4 lặng lẽ di chuyển một cách chính xác theo kiểu “sao chép” các chuyển động của ngón số 1.Theo cách này toàn bộ sự chú ý của học sinh được tập trung vào ngón số 1. Nó cần thiết vì ngón số 1 sẽ định hướng cho ngón số 4 – tránh những chuyển động không khớp nhau.

Để tránh những âm thanh khó nghe “ như tiếng mèo gào” khi thực hiện động tác glissando (vuốt) từ một nốt này sang nốt kia thì hai ngón tay không cần phải di chuyển với nhịp độ quá nhanh hoặc chậm. Nhìn chung, vấn đề nằm ở sự thay đổi vị trí bấm dẫn đến sự thay đổi của âm thanh nên dù bạn bấm từng nốt hay bấm hai nốt cùng một lúc (double stops) thì cũng cần sự chính xác giống như cách thực hiện trên bàn phím piano trên cả bản nhạc. Chỉ như vậy bạn mới trở thành một nghệ sĩ chuyên nghiệp.

                             MUỐI lược dịch từ cuốn VIOLIN PLAYING AS I TEACH IT

Người Theo Dõi